baner

Cơ sở dữ liệu nâng cao

Cơ sở dữ liệu nâng cao, Advanced Database.

Khai phá dữ liệu

Khai phá dữ liệu.

An Toàn Thông Tin

An Toàn Thông Tin

Trí tuệ nhân tạo

Trí tuệ nhân tạo.

Bảo Mật Thông Tin

Bảo Mật Thông Tin

Hiển thị các bài đăng có nhãn Hướng Dẫn Thực Hành. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Hướng Dẫn Thực Hành. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 11 tháng 11, 2015

Những addon bảo mật không thể bỏ qua cho Firefox

Những addon bảo mật không thể bỏ qua cho Firefox (Phần 1)
Bạn nên cài ít nhất 1 addon trong số những addon giới thiệu.
Trình duyệt Cáo Lửa luôn là một trong số trình duyệt được nhiều người tin dùng không chỉ bởi tốc độ duyệt web nhanh mà còn hỗ trợ rất nhiều addon giúp người dùng lướt web ngày càng thêm thú vị.
Bài viết này, GenK sẽ giới thiệu nhóm addon bảo mật cho Firefox mà tác giả nghĩ bạn nên cài ít nhất 1 addon trong số này để tự bảo vệ mình trong thế giới mạng.
I/ Blocking - chặn quảng cáo
1.  Adblock: là một addon lọc nội dung cho trình duyệt rất phổ biến hiện này. Adblock cho phép người dùng chặn các phần tử của trang như quảng cáo, không cho chúng tải xuống và hiển thị. Một phiên bản nhánh có tên gọi Adblock Plus đã phát triển và thay thế cho Adblock cũ. Addon được cải tiến giao diện người dùng, các bộ lọc đăng kí, và khả năng ẩn phần tử. Adblock Plus đã trở thành một trong các phần mở rộng thông dụng nhất với hơn 4 triệu lượt người dùng mỗi ngày.
Những addon bảo mật không thể bỏ qua cho Firefox (Phần 1)
2.  BluHell Firewall : cũng cùng chức năng chặn quảng cáo và các phần tử tải về không mong muốn như Adblock Plus nhưng  BluHell Firewall có dung lượng nhỏ hơn và dễ sử dụng hơn với người dùng.
Những addon bảo mật không thể bỏ qua cho Firefox (Phần 1)
3. Request Policy : giúp bạn nâng cao bảo mật cho Firefox bằng cách không để cho các website bạn thường truy cập thu thập thông tin cá nhân của bạn để bán cho bên quảng cáo. Request Policy sẽ bảo vệ bạn khỏi các cuộc tấn công Cross-Site Request Forgery (CSRF)  và các cuộc tấn công không mong muốn khác.
Những addon bảo mật không thể bỏ qua cho Firefox (Phần 1)
II/ Cookies
Cookie là các thông tin lưu trong máy tính thường được dùng để nhận ra người dùng khi viếng thăm một trang web. Khi người dùng truy cập đến một trang web có sử dụng cookie, trang web đó sẽ tự động gửi cookie đến máy tính của người dùng. Những cookie này tự động được tổ chức trong hệ thống máy tính.
Nhưng một điều cần lưu ý là cookie có thể tiết lộ bí mật về người dùng. Các trình duyệt sử dụng công nghệ mới sau này cho phép đề phòng việc các cookie tiết lộ bí mật bằng các cài đặt chế độ cấm gửi ngược lại hay là hỏi ý kiến người dùng máy trước khi gửi thông tin cho ai. Và bạn hoàn toàn có thể quản lý cookie này bằng các addon dưới đây nếu không muốn các thông tin của mình bị ai đó dòm ngó.
1. Cookie Controller : là công cụ cho phép bạn quản lý hiệu quả cookie trình duyệt, có thể bật/tắt cookie và DOM lưu trữ cho một hay nhiều trang web nào đó. Có thể loại bỏ cookie chỉ một nhấp chuột.
Những addon bảo mật không thể bỏ qua cho Firefox (Phần 1)
2. CS Lite Mod: đặt quyền cho cookie ở mỗi domain dễ dàng từ thanh toolbar.
Những addon bảo mật không thể bỏ qua cho Firefox (Phần 1)

3. Self-Destructing Cookies: giúp xóa cookie khi bạn đóng trình duyệt, giúp chống lại các tracker và zoombie cookie.
Những addon bảo mật không thể bỏ qua cho Firefox (Phần 1)
 
Những addon bảo mật không thể bỏ qua cho Firefox (Phần 2)

Tiếp theo phần 1 bài viết Những addon bảo mật không thể bỏ qua cho Firefox, là một loạt các addon hữu ích trong nhóm Password và Site Information/ Data.
Những addon bảo mật không thể bỏ qua cho Firefox (Phần 2)
III/ Password
Bạn có thể quản lý mật khẩu các trang thường đăng nhập bằng một mật khẩu Master có sẵn trong Firefox hoặc sử dụng các addon quản lý mật khẩu dưới đây.
1. KeeFox: nếu bạn đang sử dụng chương trình KeePass Password cài trên máy tính thì bạn nên sử dụng thêm addon KeepFox như một cầu nối giữa 2 chương trình.
Những addon bảo mật không thể bỏ qua cho Firefox (Phần 2)
2. LastPass Password Manager: một trình quản lý mật khẩu trực tuyến phổ biến hiện nay, bạn có thể quản lý nhiều mật khẩu đăng nhập một cách an toàn, chỉ cần nhớ một mật khẩu Master. Những dữ liệu nhạy cảm được mã hóa trước khi đồng bộ nên không ai có thể truy cập được chúng.
3. Quick Password: giúp truy cập nhanh vào trình quản lý mật khẩu của Firefox, đặc biệt hữu ích với những ai có nhiều tài khoản trên một tên miền duy nhất.
IV/ Site Information/ Data
Gồm những addon giúp hiển thị thông tin các website bạn đang truy cập, một số addon cho phép bạn thay đổi các dữ liệu transfer.
1. Hostname in Titlebar: cho biết tên hostname, URL hoặc tài khoản email trên thanh titlebar, giúp các chương trình quản lý mật khẩu dễ dàng nhận ra các thông tin đăng nhập.
2. HTTP Nowhere: khóa tất cả các thông tin chưa được mã khóa khi sử dụng giao thức HTTP. Khi sử dụng addon này sẽ có một nút bấm được tích hợp vào thanh toolbar của Firefox cho phép bạn vô hiệu hóa các yêu cầu web không được mã hóa. Đây là một trong những cách giúp bạn bảo vệ thông tin riêng tư của mình như tên đăng nhập, mật khẩu… tránh bị ‘nghe lén’ trong mạng LAN.
3. Modify Headers: cho phép thêm, thay thế hoặc lọc các yêu cầu HTTP.
Những addon bảo mật không thể bỏ qua cho Firefox (Phần 2)
4. Show IP: hiển thị địa chỉ IP của trang web bạn đang duyệt trên thanh Addon-bar. Các thông tin về IP hosting, vị trí, quốc gia đặt hosting và các liên kết tới các trang như robtex.com, ip2contry.cc… để cho biết thêm các thông tin về IP của hosting mà trang web đang chạy.
5. Site Identity Button Colors: làm nổi bật các trang web sử dụng giao thức an toàn HTTPS.
Những addon bảo mật không thể bỏ qua cho Firefox (Phần 2)
6. WorldIP:  giúp chống các DNS giả mạo và các website giả mạo. Hiển thị thông tin chi tiết về hostname, host ip, quốc gia và thành phố đặt hosting…
Hy vọng các addon trên có thể giúp ích cho bạn trong việc bảo vệ thông tin riêng tư của mình khi lướt web.

 Theo GenK

Chủ Nhật, 15 tháng 12, 2013

Cấu hình WPAD trong TMG 2010

Trong hướng dẫn này chúng tôi sẽ giới thiệu cho các bạn cách máy khách Web Proxy cung cấp những thuận lợi khác biệt trong bảo mật và hiệu suất khi truy cập TMG web proxy server.
Trong Forefront Threat Management Gateway (TMG) 2010, có ba kiểu máy khách - SecureNAT, Web Proxy và TMG Firewall. Máy khách truy cập tài nguyên thông qua TMG firewall có thể là bất cứ máy khách nào trong số trên hoặc có thể là cả ba vì chúng không loại trừ lẫn nhau. Mặc dù vậy mỗi kiểu máy khách đều có những ưu điểm và nhược điểm riêng.
Nhiều chuyên gia mạng chọn máy khách SecureNAT khi thiết kế triển khai TMG firewall vì chúng dễ cấu hình. Tất cả những gì được yêu cầu là tạo một thay đổi đối với gateway mặc định của máy trạm và bảng định tuyến trong mạng. Mặc dù máy khách SecureNAT dễ cấu hình, nhưng chúng cũng có một số hạn chế nghiêm trọng trong bảo mật và hiệu suất. Không thể xác thực vì chúng không có cơ chế xác thực trong các gói IP. Thêm vào đó, máy khách SecureNAT cũng tiêu tốn rất nhiều tài nguyên hệ thống, làm giảm lưu lượng một TMG firewall có thể xử lý.
Từ góc nhìn bảo mật và hiệu suất, máy khách Web Proxy là một lựa chọn lý tưởng. Khi các máy khách được cấu hình để sử dụng TMG firewall như một web proxy server, chúng sẽ giúp tăng khả năng xác thực người dùng và giảm được nhu cầu tài nguyên hệ thống trên tường lửa. Tuy nhiên nhược điểm ở đây là yêu cầu thay đổi cấu hình máy khách.

Cấu mình máy khách Web Proxy

Tuy nhiên việc cấu hình một máy khách Web Proxy rất đơn giản. Có thể sử dụng Internet Explorer để thực hiện điều đó, mở trình duyệt web và từ menu, chọn Tools/Internet Options/Connections/LAN Settings. Tích tùy chọn Use a proxy server for your LAN và nhập vào hostname hay địa chỉ IP của TMG proxy, sau đó chỉ định cổng được cấu hình web proxy listener (mặc định là cổng 8080).

Hình 1
Khi hoàn toàn việc cấu hình, trình duyệt sẽ gửi một yêu cầu trực tiếp đến web proxy server được chỉ định. Với cấu hình máy khách này, chúng ta có thể xác thực người dùng và nhóm người dùng, giảm được tải trọng trên TMG firewall.

Cấu hình máy khách và Automatic Web Proxy Discovery

Việc cấu hình thủ công các thiết lập web proxy trên mỗi máy khách có thể tiêu tốn nhiều thời gian và công sức nếu tổ chức có số lượng máy khách. Trong hầu hết các trường hợp, bạn cần phải sử dụng phương pháp khác để thực hiện hiệu quả hơn cũng như khả năng cấu hình tự động. Giải pháp ở đây là sử dụng Web Proxy Auto Discovery (WPAD). WPAD là phương pháp mà ở đó máy khách Web Proxy sẽ tìm proxy server mà không yêu cầu cấu hình thủ công. Hầu hết các trình duyệt web hiện hành đều được cấu hình cho phép tự động phát hiện proxy mặc định.

Hình 2
WPAD có thể được cấu hình bằng sử dụng một trong hai cơ chế - DNS hoặc DHCP. Khi máy khách Web Proxy được cấu hình để tự động phát hiện proxy server, nó sẽ cố gắng tìm ra web proxy server trước bằng cách tìm kiếm option 252 trong thiết lập nhận được từ DHCP server, sau đó bằng cách truy vấn DNS để tìm host có tên WPAD như thể hiện trong công cụ giám sát mạng bên dưới.

Hình 3
Khi máy khách tìm ra proxy server, nó sẽ kết nối và lấy về kịch bản cấu hình tự động, một file có tên WPAD.DAT, từ TMG firewall tại địa chỉ IP mà WPAD phân giải. Kịch bản cấu hình tự động này sẽ có thông tin về các proxy server được cấu hình và cách xử lý yêu cầu. Thông tin chứa trong kịch bản này được xây dựng động từ thiết lập web proxy và cấu hình mạng thiết lập trong TMG management console. Kịch bản cấu hình không cư trú trên hệ thống file của TMG firewall. Nó chỉ được lưu trong bộ nhớ và được nâng cấp động bất cứ khi nào quản trị viên tạo thay đổi đối với cấu hình TMG firewall.

Kích hoạt Auto Discovery

Để kích hoạt chế độ tự động tìm kiếm proxy, mở TMG management console, chọn nút the Web Access Policy trong cây giao diện, sau đó kích liên kết Configure Web Proxy trong panel nhiệm vụ.

Hình 4
Chọn tab Auto Discovery và tích hộp kiểm bên cạnh Publish automatic discovery information for this network. Nếu có kế hoạch sử dụng DNS cho WPAD, bạn phải để cổng mặc định là 80. Cổng mặc định này có thể bị thay đổi nếu sử dụng DHCP cho WPAD.

Hình 5

WPAD bằng DNS

Sử dụng DNS cho WPAD là tùy chọn phát hiện tự động đơn giản nhất cho máy khách Web Proxy. Trên phía DNS server, tạo bản ghi tài nguyên A có tên WPAD trỏ đến địa chỉ IP của giao diện mạng bên trong TMG firewall của bạn. Nếu có một mảng tường lửa phục vụ như một web proxy server, bạn có thể tạo bản ghi CNAME mang tên WPAD trỏ đến các bản ghi tài nguyên A cho mỗi mảng, hoặc có thể tạo nhiều bản ghi tài nguyên A để phân giải địa chỉ IP bên trong của mỗi mảng.

Hình 6
Trong hầu hết các trường hợp, mặc định DNS server sẽ không đáp trả các truy vấn về bản ghi WPAD. Đây là tính năng bảo mật có bên trong Windows Server 2008 và 2008 R2 được thiết kế để ngăn chặn tấn công “man-in-the-middle”, kiểu tấn công mà kẻ tấn công có thể cấu hình proxy server giả mạo trên mạng và lén đăng ký tên WPAD bằng DNS động hoặc các chiêu thức khác. Tính năng này cũng được kích hoạt trong các máy chủ DNS Windows Server 2003 đã cài đặt nâng cấp MS09-008.
Để cho phép máy chủ DNS Windows Server 2008 hoặc 2008 R2 đáp trả các truy vấn WPAD, mở nhắc lệnh trên máy chủ DNS và nhập vào lệnh dưới đây:
dnscmd /config /globalqueryblocklist isatap
Lưu ý: Nếu đã cấu hình và triển khai DirectAccess, ISATAP có thể bị yêu cầu trong môi trường. Nếu vậy, hãy bỏ qua ISATAP từ lệnh trước.
Để cho phép máy chủ DNS Windows Server 2003 đã cài đặt bản nâng cấp bảo mật MS09-009 đáp trả với các truy vấn WPAD, chỉnh sửa khóa registry dưới đây và gỡ mục WPAD:
HKLM\System\CurrentControlServer\Services\DNS\Parameters\GlobalQueryBlockList
Sử dụng DNS cho WPAD làm việc tốt trên các mạng chỉ có một gateway. Nếu có nhiều gateway trên mạng, DNS có thể vẫn làm việc nhưng yêu cầu dịch vụ cân bằng tải trọng theo địa lý (ví dụ như F5 Global Traffic Manager).

WPAD bằng DHCP

Với các mạng phức tạp có nhiều gateway hoặc điểm vào ra, DHCP sẽ là lựa chọn tốt hơn so với DNS. Lúc này người dùng sẽ được cấu hình sử dụng proxy server gần nhất với vị trí địa lý của họ.
Để cấu hình WPAD bằng DHCP, mở DHCP management console, kích phải vào IPv4, sau đó chọn Set Predefined Options….

Hình 7
Chọn lớp DHCP Standard Options và chọn Add…. Nhập tên WPAD, chọn kiểu dữ liệu String, chỉ định mã 252 và nhập vào phần mổ tả Web Proxy Auto Discovery.

Hình 8
Chọn một DHCP để cấu hình WPAD, kích phải Scope Options sau đó chọn Configure Options….

Hình 9
Tìm phía bên dưới danh sách và chọn Option 252 WPAD. Với String value: nhập vào tên của web proxy server thích hợp hoặc mảng các mạng con theo định dạng sau:
http://<tmg_hostname:port>/wpad.dat
Lặp lại các bước này cho mỗi DHCP trong mạng.

Hình 10

Cấu hình tự động máy khách TMG Firewall

Ngoài những vấn đề được nêu trên, các máy khách TMG Firewall cũng có thể sử dụng Active Directory (AD) marker. Tùy chọn cấu hình tự động AD marker tỏ ra an toàn hơn việc sử dụng DNS hoặc DHCP, nhưng nó có nhiều hạn chế đối với máy khách TMG Firewall. Bạn có thể tham khảo tại đây để có thêm thông tin cấu hình Active Directory marker.

Kết luận

Máy khách Web Proxy cung cấp nhiều ưu điểm khác biệt về mặt bảo mật cũng như hiệu suất khi truy cập TMG web proxy server. Mặc dù vậy, với những thay đổi đối với thiết lập trình duyệt trên mỗi desktop cần truy cập Internet thì việc cấu hình tự động sử dụng DNS hoặc DHCP có thể đơn giản hóa triển khai cũng như loại trừ nhu cầu can thiệp thủ công. Với các mạng chỉ có một điểm truy cập, kích hoạt WPAD bằng DNS là một cách làm hiệu quả trong việc cấu hình máy khách Web Proxy. Với các mạng phức tạp có nhiều điểm truy cập, kích hoạt WPAD bằng cách sử dụng DHCP sẽ cho phép quản trị viên định nghĩa nhiều gateway cho các mạng con khác nhau, bảo đảm các máy khách sử dụng web proxy server gần nhất mà không cần quan tâm đến vị trí của chúng. (Theo QTM)

Thứ Bảy, 14 tháng 12, 2013

Bài Tập Thực Hành 14/12 - Ghost USB Honeypot – Installing and Running the Honeypot

Installing Ghost Honeypot
Ghost USB honeypot currently runs only over Windows XP and Windows 7. A quick install guide for it could be found here. We will however be discussing it in this article too. The first step in this process is to install the ghost honeypot from its official webpage. A link to the binary package can be found here. The next step is to install the 2 required dependencies.
These are
a) Windows Driver Framework (WDF)- More information about it and download links can be found here.  Once you have downloaded and installed it, there are two files which you will need to copy to the folder where you downloaded Ghost. The default location for these files are “C:\Program files\Windows Kits\8.0\redist\wdf\x86\WdfCoInstaller01009.dll” and “C:\Program files\Windows Kits\8.0\redist\wdf\x86\WUDFUpdate_01009.dll” as shown in the figure below. These 2 files should be copied inside the folder where you have downloaded Ghost.
Want to learn more?? 
  • Timeline Analysis & Windows Application Analysis
  • iPhone Forensics
VIEW ADV FORENSICS
b).NET Framework version 4 or higher- Ghost also has a GUI version. If you want to install and run it on your system, then you need to have .NET framework version 4 or more installed on your system. You can download it from here.
Now go to the folder where you downloaded Ghost and run Setup.exe. You may get warnings from the OS about installing these new drivers as shown in the image below. Ignore them and proceed with the installation.
As discussed previously, what Ghost does is emulate a USB flash drive. Some of the key points while emulating a USB flash drive is to make sure that it is recognized as “removable” by the Windows OS. This is because a lot of malwares will write data only to removable devices. The Ghost tool does this very accurately by installing some specific drivers to do the task. What the Ghost tool also does pretty well is write all the data that was supposed to be written to the USB device onto a image file. This way, that image file can then be copied onto another system and used for analyzing the changes that were made to that image, like copied binaries or some other malicious code.

Running the Honeypot
Once you have installed the Ghost tool onto your system, you can either use it in the command line mode or the GUI mode.Note that the emulated USB flash drives will require image files. These image files have a predefined location, i.e C:\gd[0-8] when using the command line tool or C:\gdgui when using the GUI tool. Ghost will automatically create empty image files if they are not present. But these empty image files require formatting before they could be used. And hence a more better solution is to download preformatted image files from the project’s website. The links could be found here.Once you have downloaded these preformatted image files, you should rename them properly and place it at the appropriate location. For example, an example location for one of the image files could be C:\gd0.img for the command line tool and C:\gdgui.img for the GUI version.
We will start by using the command line version of Ghost first. To use it just go the directory where it is installed and type “ghosttool”. One of the most important things to remember while doing this is to make sure that you are running command prompt as the system administrator, otherwise you will get an error.
Lets mount a virtual USB flash drive.
Once this is done, you will notice that you get a notification from windows that it has identified a usb device with removable storage. This makes sure that the device was emulated properly. Also, you can see that a removable device with capacity of about 100 mb is now being shown by Windows.
Now, if there is a malware installed on this system, it will detect this removable device and write data to this emulated USB device automatically. The binaries or data written to this USB will be captured in the image file, which could be then taken to a separate OS and used for analysis. In this case i will just copy some file to the usb device and when we unmount it, we will notice that Ghost has detected those write requests.
Now, we will have a quick look at the GUI version. Remember to run it as administrator. For the GUI version, the image file name will be gdgui.img. To mount an image, just click on Mount and it will emulate the USB device.
Once you unmount the device and if there was ever a write request to the drive, it will be shown to you as shown in the figure below.
You can now copy the image file to a different isolated environment and use the captured data for analysis.
Conclusion
USB malwares are becoming more and more common these days. The ghost USB honeypot project aims at emulating a USB device to capture any data that a malware may write to your USB device. This captured data can then be transferred over to another system for analysis.
References:

Thứ Ba, 10 tháng 12, 2013

EMET 4.0 Security Strategy and Installation Step-By-Step

(Source TrustSec) - TrustedSec is a big fan of The Enhance Mitigation Experience Toolkit (EMET).
A quick summary of EMET, it’s a free tool provided by Microsoft which allows you to add additional checks and memory analysis of running processes in order to protect against things like zero days, exploits, certificate pinning (trusts), and more. Traditional exploit methods rely on several predefined behaviors (not always but mostly), EMET puts in a lot of checks and preventative measures in stopping these types of attacks in memory and remove the ability for remote code execution (RCE) to occur.

An example on how EMET can work and wouldn’t work would be the following:
       A working example of EMET can be found in the latest Internet Explorer exploit (MS13-009). An integer overflow exists inside vgx.dll and due to the handling of dashstyle.array lengths for vml which causes the bug. The exploit itself uses a common technique for bypassing Address Space Layout Randomization (ASLR), Data Execution Prevention (DEP), and more. The technique used in this attack uses a combination of a technique called a heap spray and return oriented programming (ROP) gadgets built on Java Runtime Environments (JRE6). The way EMET protects against this is through several techniques, the first is ROP mitigation attacks. In a ROP exploit, an attacker will use a series of returns already pieced together in memory (and not affected by ASLR) to put together a “gadget” which allows the ability to execute remote code (Overview NX). EMET works on a process by process basis and can monitor these type of techniques and stop the execution from occurring (if configured properly, more on that later).
The second method of prevention is the heap protection aspects which pre-allocate popular portions of memory that are commonly used by attackers. When jumping to your NOP slide and shellcode it isn’t there and the exploit isn’t successful. These two examples alone have the ability to prevent the exploit from functioning properly and eliminating the threat.

An example where EMET would not work would be a sandbox escape attack in something like Java. Most recently, the Java Applet ProviderSkeleton Insecure Invoke Method exploit was released within Metasploit. In this example, this is a flaw within how Java is designed and not using traditional in memory attacks. Instead this attack exploits an insecure invoke method inside the ProviderSkeleton class in Java update 21 and earlier. Since this isn’t a traditional exploit method, something like EMET wouldn’t save you from this type of attack. Something to be aware of, and something you should definitely be analyzing from what’s in the public.

One word of caution, EMET isn’t a 100 percent method for preventative measures. Older versions had known bypass techniques, however the capabilities you get with EMET drastically increase the ability to withstand traditional exploits and relatively easily to deploy. On that note, let’s get into the installation of EMET 4.0.

First, you will need to download EMET 4.0 which can be downloaded from here: http://www.microsoft.com/en-us/download/details.aspx?id=39273. Select the MSI file below:
This will download an MSI file which you can deploy systems. Conversely you could also deploy the MSI files through group policy on a much larger deployment. EMET does support group policy add-ons and can be centrally management through Active Directory. Note there is also a larger PDF that contains more information about EMET 4.0.
Double click on the MSI file and follow the steps to install.
Next, select the “use recommended settings” and finish the installation.
Installation should finish below:

Go to your start menu and locate the newly installed “EMET GUI”. Open up the EMET GUI and get into the main console. The way EMET works is by running processes and protecting those processes.
First, once inside the GUI, in the middle there’s a Quick Profile Name, select the drop down and select “Maximum security settings”. Then in the same GUI menu on the left hand side, select “Import”:


Then select “Popular Software”: 


The popular software xml contains a few applications like 7-Zip, mIRC, Realplayer, VLC, WinZip, Chrome, Google Talk, Office, Live Essentials 2012, Lync Communicator, Skype, Windows Media Player, Wordpad, Adobe, Java, and Internet Explorer. Note that this is just a standard best practices for software that has been previously configured. When deploying this to a large scale enterprise, you will want to modify this XML file and add appropriate executables to protect in your environment. EMET will NOT protect against things that are not already defined in the XML. Note that all applications on the operating system will have default mitigation scenarios placed on them if they are in %APPDATA%, %ProgramFiles(x86)%, %ProframFiles%, %Windir%, and %LOCALAPPDATA%.

Next once that is configured, go to the main GUI menu and check to ensure that all of the protection mechanisms are set to “Always On”.
If not, then select the drop down menu and select “Always On”, and select the always on feature.
Lastly, from the main menu, select the “Apps” button on the top middle of the GUI and once in the main screen, ensure “deep hooks” is specified to on. Also, take a look at the application list and start to build your XML list with things that aren’t already included in the protection list.


Next, if we want to integrate this within group policy, there are admx files that are included under your program files\EMET\Deployment\Group Policy folder. You need to copy the .admx files to your SYSTEMDRIVE\Windows\PolicyDefinitions folder and the .adml files to SYSTEMDRIVE\Windows\PolicyDefinitions\en-US. When you move them there you can get to the policies through Computer Configuration -> Administrative Templates -> Windows -> Components -> EMET GPO. Below is a screenshot of what options you have available:

Once you’ve configured everything, there’s one last step you want to do, in the main menu area shown in the first image on the very top of this post, you will notice on the right hand side “Running EMET” in the Running Processes tab. Scroll through the applications that are listed there and ensure you have the major ones covered. For example, Excel, Adobe, etc. If there isn’t a green “Running EMET”, right click on it, and select “configure”. Once there, you can go back to that menu and it should now be green and protected by EMET.

That is it! You should have EMET configured and ready to go.

Thứ Sáu, 6 tháng 12, 2013

Installing and Removing Software in Backtrack5 R3 ?

Backtrack is based on the Ubuntu distribution. But backtrack is not Pre-installed with Ubuntu Software Center. It,s very easy to install and remove software through software center.
Ubuntu Software Center :- 
Ubuntu Software Centere gives you instant access to thousands of great games and applications — some free and some available commercially. You can also search for apps directly from the Dash. If you see something you like, you can see more information and then install it in just a couple of clicks.

Steam on Ubuntu :-

You can now access thousands of games on Steam with Ubuntu Software Centre. Canonical and Valve have worked closely together to make Ubuntu the best performing open platform for gaming and now the ultimate entertainment platform is fully supported.
You need to install the Software center first.
Open the Terminal and type the apt-get install software-center
root@bt:- # apt-get install software-center
Installing and Removing Software in Backtrack5 R3
Now open your Software-center
Installing and Removing Software in Backtrack5 R3
and choose your software to remove
Installing and Removing Software in Backtrack5 R3
root@bt:- # sudo apt-get autoremove
To remove the remaining parts of the software.
Hope you like my post Installing and Removing Software in Backtrack5 R3. Please Share with others.

Thứ Hai, 25 tháng 11, 2013

[1 phút] là thời gian để giả mạo các trang đăng nhập eBanking

Hay chính xác hơn là giả mạo bất kỳ mọi trang. Đối với Hacker, nếu như họ không thể đột nhập được vào hệ thống của tổ chức, bước cuối cùng họ sẽ chuyển sang nhắm thẳng vào người dùng đầu cuối, các nhân viên với nhận thức bảo mật kém. Còn đối với một chuyên gia đánh giá bảo mật, sẽ có lúc bạn cần thực hiện các cuộc "tấn công Social Engineering" để đánh giá nhận thức của người dùng, kiểm tra xem họ có tuân thủ theo chính sách bảo mật của tổ chức hay không ?

Trong bài hướng dẫn này, tôi mặc định các bạn đã hiểu cơ bản về BackTrack và những khái niệm như Social Engineering, Phishing … Cùng các kiến thức căn bản về mạng và hệ thống như IP, NAT, Dynamic DNS.
Lần này tôi sẽ hướng dẫn cách thức mà kẻ tấn công có thể giả mạo trang đăng nhập của bất kỳ mọi Website để đánh cắp tài khoản người dùng, từ những tài khoản của các ngân hàng điện tử Việt Nam cho đến các tài khoản thư điện tử Gmail, Outlook, Facebook …online banking

 *Chú ý : Đây là lỗ hổng xuất phát từ việc thiếu nhận thức về an toàn thông tin của người dùng, dẫn đến việc bị lừa đăng nhập vào Website giả mạo và bị mất dữ liệu thông tin, không phải lỗ hổng ứng dụng Web !
Social Engineering Toolkit (SET) & Credential Harvester Attack
SET là bộ công cụ rất mạnh để thực hiện các cuộc tấn công Social Engineering. Có thể ngầm hiểu nó là "Metasploit" của giới chuyên đi lừa đảo đánh cắp dữ liệu. Nó cung cấp cho kẻ tấn công một giao diện rất dễ sử dụng để thực hiện những kỹ thuật như Phishing, Browser Exploitation …
Credential Harvester Attack là một trong số những kỹ thuật đó, một tùy chọn sẵn có trong bộ công cụ SET, nó có thể "sao y bản chính" bất kỳ mọi trang Web và chuyên dùng để tạo ra các trang Phishing nhằm đánh cắp dữ liệu của người dùng đầu cuối. "Sao y bản chính" không quá 1 phút, không đòi hỏi kẻ tấn công phải tốn nhiều thời gian cho việc lập trình lại trang giả mạo như phương pháp truyền thống.
Chúng ta bắt tay vào thực hiện ngay thôi, xem nó hoạt động như thế nào nhé. Khởi động hệ điều hành BackTrack và di chuyển đến thư mục của công cụ SET trong Terminal :
Screen Shot 2013-05-12 at 4.26.47 PM

Màn hình chào mừng của công cụ SET sẽ xuất hiện, tôi chọn option số 1 "Social-Engineering Attack" :
Screen Shot 2013-05-12 at 4.40.47 PM

Tiếp theo tôi sẽ chọn tùy chọn số 2 "Website Attack Vectors", vì tôi đang cần kiểm tra nhận thức bảo mật của người dùng đối với các cuộc tấn công Phishing :
Screen Shot 2013-05-12 at 4.43.45 PM


Đến phần này tôi sẽ sử dụng kịch bản tấn công Credential Harvester Attack bởi vì tôi muốn có được thông tin về tài khoản đăng nhập của nạn nhân.
Screen Shot 2013-05-12 at 4.47.02 PM


Tôi chọn tiếp tùy chọn Site Cloner để "sao y bản chính" trang đăng nhập của những trang Web có tài khoản của nạn nhân mà tôi muốn đánh cắp.
Ở đây tôi sẽ chọn giả mạo trang đăng nhập của ngân hàng Vietinbank, xin nhắc lại đây không phải là lỗ hổng ứng dụng của trang này mà là do sự thiếu nhận thức về bảo mật của người dùng đầu cuối. Tôi chỉ chọn ngẫu nhiên trong các ngân hàng điện tử Việt Nam mà thôi) :
Screen Shot 2013-05-12 at 4.49.24 PM


Tiếp theo tôi cần gõ địa chỉ IP máy tính của kẻ tấn công, nơi sẽ nhận lại dữ liệu mà nạn nhân gửi đi. Trong bài hướng dẫn này tôi chỉ sử dụng địa chỉ IP nội bộ (192.168.5.147), trên thực tế kẻ tấn công sẽ sử dụng Domain gần giống với trang Web mà chúng muốn giả mạo để làm tăng thêm sự "tin cậy" của nạn nhân :
Screen Shot 2013-05-12 at 4.59.12 PM

Screen Shot 2013-05-12 at 5.03.55 PM

Quá trình sao chép trang đăng nhập của ngân hàng điện tử Vietinbank đã bắt đầu và máy tính của tôi đang "chờ đợi" để đánh cắp thông tin của người dùng :
Screen Shot 2013-05-12 at 5.13.46 PM


Giờ là lúc tôi sẽ gửi địa chỉ IP hoặc Domain (đã trỏ đến máy của tôi) của mình đến cho nạn nhân, theo kịch bản tôi sẽ giả mạo cả địa chỉ email của ngân hàng để dụ người dùng truy cập vào địa chỉ giả mạo mà tôi gửi.
Nếu người dùng đọc Email và truy cập vào liên kết giả mạo mà tôi gửi, anh ta sẽ thấy trang đăng nhập ngân hàng điện tử của ngân hàng Vietinbank :
Screen Shot 2013-05-12 at 5.14.56 PM

Chờ xem chuyện gì sẽ xảy ra khi nạn nhân nhập thông tin của mình ….
Screen Shot 2013-05-12 at 5.15.34 PM

Trên console của kẻ tấn công ngay lập tức sẽ nhận được thông tin ...
Screen Shot 2013-05-12 at 5.17.34 PM
Như chúng ta đã thấy, khi nạn nhân nhập thông tin tài khoản ngân hàng của anh ta vào trong trang Web giả mạo, thông tin danh tính đó sẽ được gửi ngay lập tức đến kẻ tấn công và nạn nhân sẽ được chuyển hướng đến trang Web thật của ngân hàng, điều này nhằm làm giảm đi sự nghi ngờ của nạn nhân (giống như khi chúng ta đọc thư trong Yahoo, đôi khi Yahoo hay bắt ta phải gõ lại mật khẩu để xác nhận).
Nhận thức bảo mật của nhân viên thực tế là một việc vô cùng quan trọng, chỉ vì nhận thức kém đã có thể "hạ gục" biết bao nhiêu cơ chế bảo mật mà tổ chức đã xây dựng nên.
Là một lãnh đạo an toàn thông tin, bạn phải luôn luôn nhớ thật kỹ rằng : Chúng ta có thể vá lỗ hổng của một máy tính, một ứng dụng, một hệ thống … Nhưng không có bất kỳ bản vá nào cho sự "khờ dại" của con người !
... nguồn antoanthongtin.com.vn 

P/S : Các bạn sẽ thực hành bài lab này trong ngày 3 của chương trình đào tạo. Yêu cầu cài đặt sẳn BackTrack (Lesson 1 và 2 của ngày 2)